Tiếng Việt / 原书正文 / 阅读

《阴律无情》

正文阅读

设置
阅读设置书稿封面
18
正在读取版本…
正文阅读
章节目录

44. Các lời giải thích nguyên nhân bệnh tật và việc khỏi bệnh trong lời kể này thuộc quan điểm tôn giáo của sách, không phải chẩn đoán hay hướng dẫn điều trị y khoa.↩︎

45. Những lời giải thích về nghiệp đời trước, việc thai kỳ chấm dứt và nỗi đau của vong nhi thuộc niềm tin được trình bày trong sách, không phải kết luận y khoa về nguyên nhân mất thai hay cảm giác của thai nhi.↩︎

46. “Muốn tháo chuông thì vẫn phải nhờ người buộc chuông” là thành ngữ Trung Hoa, nói rằng người gây ra sự việc cần tự mình đứng ra tháo gỡ vấn đề ấy.↩︎

47. Việc liên hệ bệnh tật với nghiệp và nói đến cách hóa giải bằng sám hối là lời giải thích tôn giáo của sách, không phải chẩn đoán hay hướng dẫn bỏ điều trị y khoa.↩︎

48. Phát biểu về cảm giác áy náy là quan điểm của người nói trong sách, không phải kết luận rằng mọi người đều phải có cùng một cảm xúc. RCOG cho biết sau phá thai có thể xuất hiện nhiều cảm xúc khác nhau; phản ứng của mỗi người tùy thuộc hoàn cảnh, lý do và cảm nhận về quyết định của mình. (RCOG)↩︎

49. Đây là lời nguyện ngắn gắn với Bồ Tát Địa Tạng trong truyền thống Phật giáo Trung Hoa; cách diễn đạt này có trong một bài ghi ở cuối bản kinh chữ Hán. Kinh Địa Tạng trình bày lời nguyện cứu độ chúng sinh trước khi tự mình thành Phật bằng những lời khác. Vì vậy, không nên xem câu ngắn này là bản trích nguyên văn từng chữ từ đoạn kinh ấy. (CBETA, J33nB277; T0412)↩︎

50. Chín phẩm chỉ các phẩm bậc vãng sinh về Tịnh Độ trong kinh điển Đại thừa, không có nghĩa mỗi vong nhi đều nhận chín đóa sen giống nhau. (CBETA, T0365)↩︎

51. Đây là các phạm trù cõi giới trong Phật giáo: Dục giới còn gắn với ham muốn giác quan, Sắc giới còn có sắc, Vô sắc giới không có sắc. Đoạn này đang nói đến các cõi trời, không có nghĩa toàn bộ Dục giới đều là cõi trời. (CBETA, T1558)↩︎

52. Trong câu chuyện, “xúc thực” được giải thích tiếp bằng việc hấp thu tinh hoa của đồ cúng. Đây là cách dùng của sách, không nên đồng nhất với toàn bộ nghĩa của xúc thực trong A-tì-đạt-ma, nơi xúc được nói đến như yếu tố nuôi dưỡng tâm và tâm sở. (CBETA, T1558)↩︎

53. Tam tòng là theo cha khi chưa lấy chồng, theo chồng khi đã lấy chồng, theo con khi chồng mất; tứ đức nói về đức hạnh, lời nói, dáng vẻ và công việc của phụ nữ. Đây là khuôn phép đạo đức trong xã hội Trung Hoa truyền thống, không phải tên một bộ giới luật Phật giáo. (Từ điển Bộ Giáo dục Đài Loan)↩︎

载入中

版本信息