84. Lời dẫn Đại sư Ấn Quang ở đây có phần tương ứng với bài giảng ngày thứ hai trong Hộ quốc tức tai pháp ngữ, nhưng sách đã lược và chỉnh lời, không chép nguyên cả đoạn từng chữ. Lời dẫn Kinh Dịch và Kinh Thư lại nằm bên trong lời Ấn Quang được sách dẫn. Xem bản pháp ngữ, trang 5–6.↩︎
85. Các lời về bệnh tật, vô sinh và tuổi thọ là lời răn theo niềm tin của tác giả, không phải chứng cứ chẩn đoán bệnh hay chứng minh thủ dâm gây những hậu quả ấy. Thông tin sức khỏe của bang Victoria nêu hành vi này phổ biến và có thể là một phần của sức khỏe tình dục. Xem Better Health Channel. Lời dẫn Ấn Quang có câu gần tương ứng trong tựa tái khắc Bất khả lục, nhưng nguồn đã kiểm tra chưa xác nhận nguyên cả câu kèm số kiếp như sách này dẫn. Xem bài tựa.↩︎
86. Nguyên bản lời đáp vẫn mở đầu bằng tin thì có, không tin thì không, dù phần sau nói chưa thấy không chứng minh là không có. Bản dịch giữ sự căng nhau của lời văn này, không thêm lời phủ định theo bản tiếng Anh.↩︎
87. Năm giới trong thuật ngữ Phật giáo là tránh sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và uống rượu. Lời về tội tăng thêm khi người đã thọ giới vi phạm là cách giải thích của tác giả ở đây, không có nghĩa bản thân việc giữ giới là có tội. Xem mục 五戒 tại DILA.↩︎
88. Nam Thiệm Bộ Châu là châu ở phía nam núi Tu Di trong vũ trụ quan Phật giáo, không phải tên một châu lục phía nam trên bản đồ hiện đại. Những lời cuối là lời cầu chúc chúng sinh làm lành và thành tựu đạo, không phải lời báo rằng mọi người đã thành tựu. Xem mục 南贍部洲 tại DILA.↩︎
89. Chương này chia ác nghiệp thành thân ba, khẩu bốn, ý ba, và dùng si làm mục cuối của ý nghiệp theo nguyên bản. Danh sách đã kiểm tra trong Thập thiện nghiệp đạo kinh (T0600) dùng tà kiến ở mục cuối; bản dịch không đổi lời sách cho trùng danh sách kinh. Nói hai lưỡi là lời gây chia rẽ, không phải có hai chiếc lưỡi về thể chất.↩︎
90. Câu Sinh Thần (俱生神) là thần cùng sinh với con người và ghi thiện ác theo cách giải thích tôn giáo được DILA tập hợp. Việc cung cấp dữ liệu và xin phê chuẩn sửa thọ mạng là cơ chế minh phủ trong sách này, không phải thủ tục đăng ký của cơ quan nhà nước. Xem mục 俱生神.↩︎
91. Bát tự dùng thiên can và địa chi phối thành tám chữ biểu thị năm, tháng, ngày, giờ sinh trong thuật đoán mệnh Trung Hoa, không phải mã định danh gồm tám chữ số. Giải thích thuật ngữ không xác nhận khả năng dự báo. Xem từ điển Bộ Giáo dục.↩︎
92. Lời rằng vận động và chăm sóc sức khỏe không tăng số thọ đã định thuộc quan niệm định mệnh của sách, không phải kết luận y khoa. WHO nêu vận động thường xuyên liên quan đến giảm nguy cơ tử vong ở người trưởng thành; không nên vì lời này mà bỏ chăm sóc sức khỏe. Xem WHO.↩︎
93. Sáu đến mười hai năm là mức thông thường của loại trường hợp người nói đang kể, không phải giới hạn cố định cho mọi người hay số năm được y học bảo đảm tăng thêm nhờ cứu mạng hoặc ăn chay. Việc phân bổ quả báo qua nhiều đời cũng thuộc lời giải thích tín ngưỡng trong truyện.↩︎